Mỗi hành động của người nức danh có thể thu hút đông đảo sự chú ý từ công chúng và giới truyền thông. Các vụ án bạo lực, bê bối tình dục, lừa đảo, sử dụng ma túy và trầm mình là những chuyện mà công chúng quan tâm nhất. Trong thời gian gần đây, vụ tự tận của hai nghệ sĩ Hàn Quốc là Sulli và Goo Hara là những sự kiện gây hoang mang nhất cho đến ngày nay. Ngoài nỗi niềm tiếc thương, nhiều người cũng bắt đầu lo âu cái chết của hai nữ nghệ sĩ này sẽ gây ra chuỗi trầm mình hàng loạt.
Nữ thần tượng Sulli tự tận vào ngày 14/10, hơn một tháng sau Goo Hara, cựu thành viên nhóm nhạc Kpop Kara, cũng tự tận vào ngày 24/11.
tự sát dường như là vấn đề của một cá nhân chủ nghĩa, nhưng ảnh hưởng của nó sẽ không vì một sinh mạng ra đi mà biến mất. Người nhà và bạn bè thân thiết chỉ có thể tiêu cực bằng lòng những tác động bị động do hành động tự sát mang đến. Một số học giả đã ước tính rằng, mỗi một vụ tự tận có tác động chí ít đến cuộc sống của 6 người bên cạnh họ, có thể cần phải điều trị tâm lý.
Nếu đối tượng tự vẫn là một nhân vật của công chúng, tác động từ cái chết đó rộng hơn nhiều. Trong trường hợp này, trẫm mình thậm chí còn có thể “truyền nhiễm” như bệnh cúm, dẫn đến hiện tượng “Bắt chước tự tử một cách mù quáng” (Copycat suicide). Đây là hiệu ứng Werther (The Werther effect), cái tên khởi hành từ cuốn tiểu thuyết “Nỗi đau của chàng Werther” (The Sorrows of Young Werther) của tác giả Johann Wolfgang von Goethe sau khi được xuất bản năm 1774 đã dấy lên hội chứng trầm mình trong thanh niên lúc bấy giờ. Cuốn tiểu thuyết mô tả bi kịch thế cục của chàng thanh niên tên Werther khi không thể đến với người mình yêu. Sau cuối, nhân vật chính đã kết liễu sinh mạng bằng khẩu súng của tình địch.
Cuốn sách “Nỗi đau của chàng Werther” được xuất bản lần đầu năm 1774.
Nỗi đớn đau và giày vò của chàng trẻ trai Werther đã biến Goethe từ một cây bút vô danh trở nên đại văn hào trong một đêm. Nhưng song song đó, chấm dứt thụ động của nhân vật chính cũng gây ra một làn sóng tự sát. Nhiều nạn nhân được tìm thấy trong y phục na ná như lời Goethe diễn đạt về Werther (áo khoác Tailcoat xanh lam và quần nhung vàng), tự tử bằng một khẩu súng y hệt như trong câu chuyện của thanh niên trẻ này. Đặc biệt hơn, cuốn tiểu thuyết cũng xuất ngày nay hiện trường các vụ trầm mình đó.
“Nỗi đau của chàng Werther” bị cấm xuất bản tại nhiều quốc gia. Ở Leipzig, bang Sachsen, nước Đức, cuốn tiểu thuyết không những bị cấm xuất bản mà các trang phục giống Werther cũng bị cấm bắt chước.
So sánh với dữ liệu từ thế kỉ trước, các nhà khoa học cũng phát hiện ra hiệu ứng Werther là có thật. Vào những năm 70 của thế kỉ trước, nhà từng lớp học David Phillips tìm thấy bằng cớ về hiệu ứng Werther từ những số liệu lớn. Ông nhận ra rằng sau mỗi vụ tự sát được vắng, tỷ lệ tự tận trong khu vực sẽ tăng lên đáng kể trong khoảng thời kì ngắn sau đó. Theo đó, sau cái chết của Marilyn Monroe vào ngày 4/8/1962 với duyên cớ là tự tận (bị ngờ), số người chết vì tự tử ở Mỹ đã tăng thêm 303, tăng 12% so với tháng trước đó. Hơn nữa, đối tượng tự sát này cốt là đàn bà trẻ.
Báo chí đưa tin về cái chết của Marilyn Monroe.
Trương Quốc Vinh là một trường hợp rưa rứa. Tháng 1/4/2003, Trương Quốc Vinh trẫm mình đã kéo theo “cơn sóng” nhỏ trầm mình. Với một cái chết trẻ như vậy, công chúng và giới truyền thông đã “thi vị hóa”, gọi tên vụ tự sát này bằng những mỹ từ như “nỗi đau tuyệt sắc”, “kết thúc một huyền thoại”,... và sự “thi vị” này như một vị thuốc an thần cho những người trẻ tuổi nhưng mang lại kết quả không hề “thi vị” chút nào.
Hình ảnh Trương Quốc Vinh ngập mặt báo sau khi tự kết liễu cuộc thế mình.
3 tháng trước khi Trương Quốc Vinh tự tận, chỉ có 99 người tự tử. Nhưng đến tháng 4, số vụ tự tử ở Hồng Kông đã tăng 32%, đến con số 131. Trong số đó, không ít người để lại thư tuyệt mệnh, giải thích hành động trẫm mình của họ có liên quan đến cái chết của Trương Quốc Vinh.
Năm 1991, Derek Humphry xuất bản cuốn sách “Final Exit”, khởi xướng trợ tử cho các bệnh nhân thời kỳ cuối. Trong cuốn sách của mình, ông đề xuất và miêu tả chi tiết phương pháp tự tử bằng túi nhựa. Cùng năm đó, số người chết với cách thức na ná ở thị thành New York (Mỹ) đã tăng 313%. Cách thức tự tận không chính thống này lại tăng từ 8 vụ lên đến 33 vụ. Ngoài ra, có 37% hiện trường tự sát đã xuất hiện trong cuốn sách “Final Exit”.
Một cách tự tận khác là bằng than nóng, phổ quát ở Hồng Kông từ năm 1998. Vào tháng 11 năm đó, trường hợp tự sát trước tiên trên thế giới bằng cách đốt than trong phòng kín đã xuất hiện ở Thiên Thủy Vi, Hồng Kông. Vì đây là cách trầm mình đặc biệt và chưa từng xảy ra nên các dụng cụ truyền thông Hồng Kông đã đưa tin rộng rãi và chuyên sâu về nó. Kết quả là, một cách thức tự tận mới vừa xuất hiện đã thay thế treo cổ, trở nên cách tự vẫn phổ thông thứ 2 ở Hồng Kông. Sau này, các vụ tử tự bằng cách đốt than nóng đã lan rộng sang Macau, Hoa Nam, Đài Loan, Nhật Bản cũng như Đông Á.
Truyền thông Hồng Kông đưa tin về trường hợp tự tận bằng than đầu tiên.
tự tận là một hiện tượng vô cùng phức tạp cùng những hậu quả tầng lớp, kinh tế và tình cảm. Khoảng 800.000 người chết vì tự vẫn mỗi năm trên toàn thế giới, nhiều hơn số người chết vì chiến tranh, khủng bố và bị sát hại cộng lại. Thực tế, có rất nhiều trường hợp tự tận là vì những hành động bốc đồng.
Một số học giả đã theo dõi và điều tra 515 người rứa trẫm mình trên Cầu Cổng Vàng (The Golden Gate Bridge) ở Mỹ. Kết quả cho thấy chỉ có 6% trong số đó sẽ cố kỉnh tự vẫn trong tương lai. Và có nhiều bằng cớ cho thấy những người này đã kiên tâm tự hủy hoại mình từ rất lâu.
Các nghiên cứu khác đã chỉ ra rằng, gần 1/4 những người rứa trẫm mình trong vòng 5 phút từ lúc nảy sinh nghĩ suy tiêu cực đến thời điểm thực hành nghĩ suy đó. Và gần 1/2 số người trầm mình đã cố tự vẫn trong vòng 10 phút sau khi có ý định trầm mình. Những dữ liệu này cho thấy, tự vẫn do kích động phổ thông hơn trầm mình đã vạch sẵn. Thậm chí, nếu có gì đó cản ngăn hoặc can thiệp thì sẽ làm giảm đáng kể số vụ trầm mình.
Kevin Hines, người sống sót sau khi nắm tự kết liễu đời mình bằng cách nhảy từ Cầu Cổng Vàng, cho biết: "chốc lát vừa nhảy xuống, tôi đã ngay tức khắc hối hận" .
Nếu hiệu ứng Werther được xem như một dịch cúm tự tận, còn các phương tiện truyền thông là một cách thức quảng bá thì những người có “sức đề kháng” kém sẽ dễ bị ảnh hưởng nhất. Những ai có cuộc sống hạnh phúc mỹ mãn có một “sức đề kháng” cực tốt và ít bị ảnh hưởng bởi báo chí. Nhưng những cá nhân chủ nghĩa mẫn cảm sẽ có xu hướng bắt chước theo các vụ trầm mình mà báo chí “ném bom” trên các công cụ truyền thông.
Theo lý thuyết học tập tầng lớp, nếu “hình mẫu” có đặc tính trội hoặc có địa vị tầng lớp cao hơn thì việc bắt chước sẽ dễ dàng hơn. Do đó, việc báo chí khẩn hoang quá chi tiết các vụ tự sát thật sự sẽ khiến người mẫn cảm “ngồi vào đúng chỗ”, ảnh hưởng quan yếu đến việc bắt chước trầm mình.
Vậy, có cách nào phá vỡ hiệu ứng Werther không?
Trên thực tiễn là có và nó là “Papageno”, nhân vật chính trong vở nhạc kịch “Cây sáo thần” soạn giả Wolfgang Amadeus Mozart. Chàng trai Papageno cũng có tình cảnh hao hao với Werther nhưng vào phút cuối, Papageno đã thay đổi quyết định trầm mình sau lời thuyết phục của ba người bạn. ứng với hiệu ứng Werther, hiệu ứng Papageno được sử dụng để phòng ngừa hành động trẫm mình bằng cách phát tán các mô hình hành vi và ý kiến tích cực.
Chẳng hạn như ở Áo, số vụ tự tận ở ga xe điện ngầm tăng mạnh từ năm 1983 đến năm 1986 và nhiều người cho rằng đây là hậu quả của các dụng cụ truyền thông. Do đó, năm 1987, Hiệp hội phòng tự tử của Áo đã khởi động một chiến dịch nhằm giảm số vụ tự tử trên tàu điện ngầm bằng các đổi thay cách thức đưa tin của truyền thông. Từ tháng 6/1987, báo chí Áo không đưa nhiều tin về các vụ tự tận nữa.
Theo thưa, trước chiến dịch này, trung bình cứ 6 tháng sẽ có 9 vụ trẫm mình ở ga xe điện ngầm. Sau khi chiến dịch hoạt động, số vụ tự tử rưa rứa đã giảm 80% .
Đó chính là căn nguyên mà Tổ chức Y tế Thế giới và nhiều quốc gia đã có những văn bản chỉ dẫn truyền thông đăng tải thông báo về các vụ tự tận, thí dụ như: các phương pháp trầm mình không được nêu chi tiết, các hình ảnh và video tự tử mẫn cảm phải được che mờ, không được cổ súy hành vi tự vẫn bằng những từ ngữ “thi vị”,... Trong các bài báo cần tập kết vào nội dung giáo dục, cảnh báo và cứu trợ.
Tuy nhiên, trong thời đại internet phát triển mạnh mẽ như hiện thời, những ảnh hưởng không tốt từ các dụng cụ thông tin đại chúng trở thành khó kiểm soát hơn. Ngay cả những cá nhân chủ nghĩa cũng có thể tự phát tán thông tin thì việc ngăn chặn thông báo bị động gần như vô dụng.
Nguồn: Zhihu, Baidu
0 nhận xét:
Đăng nhận xét