Thứ Năm, 7 tháng 11, 2019

Những học sinh trung học càng học khối lớp lớn càng dễ bị bắt nạt

Một học sinh có thể là người có hành vi bắt nạt, là nạn nhân của đe hoặc cả hai. bắt nạt học trò là một dạng của bạo lực học đường, có thể gây ra tổn thương về mặt thể chất, tinh thần và tầng lớp, thậm chí là tử vong, và đã trở thành một vấn đề y tế công cộng được quan hoài trên toàn cầu cũng như ở Việt Nam.

Trên thế giới, mỗi năm có 6 triệu trẻ trai và 4 triệu trẻ gái có liên hệ trực tiếp đến bạo lực học đường, trên 3,2 triệu học sinh là nạn nhân của đe mỗi năm. Tại Hoa Kỳ, có khoảng 28% học trò từ 12 - 18 tuổi bị nạt tại trường, trong đó 18% học sinh bị xúc phạm, thuộc, 18% là nạn nhân của những tin đồn, 5% bị đe dọa và 3% học trò bị bắt làm những điều mà họ không muốn.

Một số nước có xu hướng giảm về tỉ lệ bị bắt nạt và có hành vi đe người khác như Đan Mạch, Bồ Đào Nha, Tây Ban Nha, Anh và Nauy. Bên cạnh đó, một số nước như Pháp, Bỉ, Hà Lan có tỉ lệ bị bắt nạt vẫn gia tăng ở cả hai giới. Theo báo cáo của tổ chức Plan International (PI), khảo sát trên 5 nhà nước châu Á cho thấy học trò 12 đến 17 tuổi bị ăn hiếp trong 6 tháng qua dao động trong khoảng 28% đến 75% với các hình thức đe thể chất, bắt nạt tinh thần và lạm dụng dục tình, trong đó, tỉ lệ bị ăn hiếp ở Việt Nam là 71%.

Những học sinh trung học càng học khối lớp lớn càng dễ bị bắt nạt Ảnh minh họa

Tại Việt Nam, trong thời gian gần đây học trò bị nạt như hăm dọa, đánh đập được chia sẻ phổ thông trên các trang mạng từng lớp. Hành vi đe trong độ tuổi đi học liên hệ đến các vấn đề như thành tích học tập kém, hút thuốc lá và xu hướng lạm dụng rượu tăng, khả năng kiểm soát cảm xúc kém, có nguy cơ tự vẫn tiềm ẩn.

Có mối liên quan giữa học sinh bị đe với các nguyên tố:

- Đặc điểm cá nhân: hạnh kiểm, học lực, giới tính và khối lớp của học sinh

- Gia đình: nghề nghiệp, học vấn, tình trạng hôn nhân của bố mẹ, kinh tế gia đình, học trò sống chung với ai, mức độ quan hoài của gia đình, mức độ học sinh chứng kiến bạo hành gia đình và mức độ bị người thân la mắng, đánh đập.

- Môi trường sống: mức độ đánh nhau, cãi nhau tại nơi sinh sống và nhợt tầng lớp.

- Nhà trường: mối quan hệ với tía, học trò sống cô lập và chứng kiến doạ tại dài.

Theo một nghiên cứu trên 248 học sinh trung học cơ sở tại tỉnh Phú Yên, tỉ lệ học sinh bị nạt là 37,9%. Những nhân tố liên hệ đến bị doạ ở học sinh là học lực, hạnh kiểm, khối lớp, kinh tế gia đình, tình trạng đánh nhau/cãi nhau và xảy ra các tối. < sáng dạ tầng lớp tại khu vực sống, có chứng kiến nạt trong trường học và mối quan hệ không tốt với thầy cô. Trong đó 3 nguyên tố gồm học lực, kinh tế gia đình và tình trạng đánh nhau hoặc cãi nhau tại khu vực sống cần được chú trọng.

Trong nghiên cứu trên, phần nhiều học trò nhận được sự quan hoài từ gia đình, trong đó 64,5% cho là rất quan tâm và 31,1% là quan hoài, có 0,8% cho rằng không được gia đình quan tâm. Trong 12 tháng qua, phần đông học sinh không chứng kiến bạo lực gia đình (60,1%), nhưng có tới 51,6% học sinh trả lời đã bị người nhà la mắng đánh đập, trong đó 6,8% học sinh bị la mắng, đánh đập với mức độ thẳng tuột. Hơn 50% học trò sống trong khu vực có xảy ra đánh nhau hoặc cãi nhau, với mức độ đôi khi là 43,1% và trực tính là 8,9%. Một phần nhỏ học sinh sống trong khu vực có các bạc xã hội như cờ bạc, trộm cắp, cướp giật…

Một điều đặc biệt, những học trò từ khối lớp 7 đến khối lớp 9 trong nghiên cứu này có tỉ lệ bị nạt cao hơn so với học sinh lớp 6.học trò có học lực từ khá trở xuống có tỉ lệ bị đe cao hơn so với học sinh có học lực giỏi.học sinh có hạnh kiểm từ khá trở xuống có tỉ lệ bị nạt cao hơn so với học trò có hạnh kiểm tốt. Theo định nghĩa, thuộc lòng được thực hiện một cách thân thiện, vui vẻ không được xem là bắt nạt, có thể học trò đang trong độ tuổi có sự biến chuyển về mặt tâm lý, những học sinh ở khối lớp lớn hơn dễ nhạy cảm hơn với sự ghẹo của bạn bè và cho rằng đó là hành vi doạ đối với mình.

Những học trò có học lực kém thường bị bạn bè chọc gây khó chịu hoặc ít được để ý gây cảm giác bị xa lánh, đó được xem là những hình thức đe. Tâm lý chung của các bậc phụ huynh là không muốn cho con em mình chơi với những trẻ sống ở môi trường sống phức tạp, có lẽ bởi vậy mà những học sinh sống ở nơi luôn xảy ra đánh nhau/cãi nhau thường bị ăn hiếp hơn. Bên cạnh đó, với những học sinh có điều kiện kinh tế gia đình khá giả, thứ nhất, có thể cách ứng xử của các em chưa phù hợp; thứ hai, các em thường mang những đồ vật có giá trị đến lớp, vô hình chung những điều đó đã khiến các em trở thành nạn nhân của đe trong trường học.

mặc dầu mối hệ trọng giữa học sinh bị bắt nạt với các nguyên tố khác về đặc điểm nhà trường là chưa rõ ràng, song vẫn cần sự quan hoài nhiều hơn từ phía nhà trường.Việc học sinh nhận định rằng đay đối xử không công bằng có thể phát sinh sự ganh tị, dẫn đến những xử sự không hạp giữa các học sinh với nhau.Bên cạnh đó, tác động từ phương pháp giáo dục có thể có ảnh hưởng tích cực hoặc tiêu cực đến nhận thức của học sinh, nên chi việc chọn lựa hình thức xử phạt một cách hợp lý và khoa học là quan trọng.

CN Y tế Công cộng LÊ HUỲNH NHƯ

0 nhận xét:

Đăng nhận xét